Trang chủ » Bài giảng Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh
Hôm nay ngày: 19-10-2018 14:46:42

Bài giảng Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh

(Ngày đăng: 10-09-2015 02:30:08)
            Hot!   
Bài giảng Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh: Vào đầu chương 14 của tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí, tác giả xoay quanh việc miêu tả ba tập đoàn người:

Thứ nhất: là bọn xâm lược, thứ hai là bọn vua quan bán nước nhà Lê, thứ ba là đoàn quân áo vải do vua Quang Trung chỉ huy.

Chỉ bằng vài nét chi tiết chọn lọc rất tiêu biểu với giọng văn pha chút châm biếm, bọn xâm lược đã phơi bày ra tất cả từ bộ mặt thật và cho đến ruột gan của chúng. Đặc biệt tên tướng giặc Tôn Sĩ Nghị hiện ra với bộ mặt kiêu căng, hóm hỉnh bởi vì: từ xưa các nhà cầm quân chưa cỏ khi nào được dễ dàng như thế. Bởi vậy khi tiến vào Thăng Long bệnh chủ quan khinh địch của chúng đã bộc lộ đến mức tột bực! Quân lính thì “đi lang thang”, “kiếm củi”, “chợ búa”, “sớm đi tối về như kẻ đi buôn”! Còn tướng tá thì “chơi bời tiệc tùng” như ngày xuân mở hội.

Các tác giả có thậm ý để chúng tự nói ra với nhau cái thái độ huênh hoang, khoác lác: “Chúng nó như cá chậu chim lồng, còn chút hơi thừa thi thóp, không đáng nói đến vâng lệnh của quan đốc bộ, định đến ngày 6 tháng giêng, nhân dịp đầu xuân sẽ xuất quân kéo thẳng đến sào huyệt của quân Tây Sơn. Bọn giặc ấy nhất định sẽ lần lượt bị bắt sông, không một tên nào lọt lướt. Người Nam Hà sẽ đến mà xem!”

Nghe ra “khẩu khí” của chúng cũng giống như bọn Nguyên Mông ngày trước “uốn lưỡi cú diều” làm cho Hưng Đạo Vương căm uất đến mức “muốn lột da xẻ thịt” cho hả giận. Hay chính cũng tên Tôn Sĩ Nghị đã nói những lời hàm hồ, láo xược hồi thứ 13: “Theo ta xem xét thì chúng như hạng trâu dê, sai một người đem thừng buộc lấy cổ mà lôi về, hẳn cũng không khó gì. Đội quân ta đến Loa Thành nhỏ nước bọt xoa tay là làm xong việc”!

Ôi! Làm tướng mà thắng, bại là lẽ thường, nhưng chính những lời nói của chúng tự làm nhục mình, đến muôn đời vì những lời đó không đủ tư cách làm tướng, nó hợm hĩnh đến mức như một tên mạt hạng nhắm mắt nói liều!

Đó là bọn xâm lược!

Còn bọn vua quan nhà Lê, thì kẻ cần nói trước tiên là Lê Quýnh, một tên công tử bột, một tên cơ hội chỉ biết “uống rượu, đánh bạc”, tiến thân bằng sự lừa bịp, dối trá, khi đã có chức quyền thì lo: “Đền ơn trả oán, lo ăn đút lót”. Bộ mặt thật của hắn đã được các tác giả vạch ra là: “Quýnh cốt cho mình khỏi ra trận, còn việc chinh chiến được hay thua, nhà nước còn hay mất, Quýnh chẳng biết đến làm gì”. Con người ấy lại được vua Lê giao cho việc cầm quân, lo việc “quốc gia đại sự”, thật là một trò hề, não nùng không hơn, không kém.

Quýnh đã tìm cách nói lừa dối để Tôn Sĩ Nghị kéo quân vào và thế là cả vua tôi vui say, quên hiểm họa Nguyễn Huệ, cho đến khi một cung nữ nói với Thái hậu cái tình thế hiện tại đó là nguy cấp, khốn đốn, không mong gì yên ổn nổi! Lúc đó, chúng mới lo sốt vó, kéo nhau đến doanh trại của Nghị, xin xuất quân. Có lẽ Nghị cũng giật mình, ớn lạnh xương sống, nhưng bản chất của chúng vẫn là chủ quan, khinh địch, nên vẫn chủ trương mùng 6 mới xuất quân. Và hắn làm cho vua quan nhà Lê run bắn lên: “Nếu muốn đi gấp thì cho vua tôi nhà ngươi đem một đạo quân đi trước cũng được”! Có khác nào như câu chuyện “buộc nhạc vào cổ mèo”.

Mặc dầu đã có sự tránh né, nể nang nhất định, nhưng vì lòng tự tin dân tộc, lòng chân thật của người cầm bút, vua quan nhà Lê vẫn phơi ra ánh sáng với tất cả sự hèn kém như đã nói trên đây!

Đó là bộ mặt thật của bọn vua quan bán nước. Cũng ngòi bút sinh động và có lòng tự trọng, tự tôn ấy, khi nói về vua Quang Trung, các tác giả đã làm sáng rực lên một ánh hào quang chính giữa, lồng lộng một hình tượng người anh hùng áo vải. Đó là đội quân gắn chặt với huyền thông dân tộc đánh giặc giữ nước.

Không huyênh hoang, khoác lác như bọn xâm lược, cũng không ấp úng, xun xoe như vua tôi nhà Lê. Nguyễn Huệ nói năng dứt khoát: “Quân Thanh sang xâm lược nước ta, hiện ở Thăng Long, các người đã biết chưa? Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng”.

Đẹp nhất là trong buổi hội kiến với các tướng sĩ sự nhất trí cao độ, tuyệt vời, hầu như có tính nghệ thuật trong bộ chỉ huy tối cao... Tài thao lược của Nguyễn Huệ là sau khi nghe tướng sĩ tôn lên làm vua, tự thân mình dẫn quân ra Bắc với ý đồ chiến lược đã sắp sẳn, rất sáng suốt và đúng đắn. Bắc Bình Vương nhận xét việc tạm lui quần về chắc chắn ngang đất Trường Yên theo ý của Ngô Thì Nhậm là đúng. Tuy vậy, nhà vua vẫn nói những lời để giữ kỉ cương quân pháp và khen thầm Ngô Thì Nhậm: “Các ngươi đem thân thờ đã làm đến chức tướng soái... Vậy mà giặc đến không đánh nổi một trận... Binh pháp dạy rằng: quân thua chém tướng... xong ta nghĩ các ngươi...”

Sau đó, Bắc Bình Vương lại nói: “Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẩn. Chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh...”

Rồi nhà vua cho mở tiệc khao quân, chia quân sĩ làm, năm đạo, hôm đó là 30 tháng chạp, nhà vua bảo kín với các tướng rằng: “Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng tết trước đã. Đến tối 30 tết lập tức lên đường hẹn ngày mồng 7 năm tới vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng các ngươi hãy nhớ lấy, đừng cho ta là nói khoác...”

Kể ra ở chiến trường mà khẳng định chắc chắn được ngày tháng chiến thắng và nơi tập kết khao quân là việc thần kì... ấy vậy mà vua Quang Trung làm được thậm chí làm nhanh hơn điều đã nói thật là kỳ diệu, có một không hai trong lịch sử chiến tranh! Đạt được chiến quả như vậy, đội quân của Quang Trung có mây yếu tố thắng lợi:

-    Giành được thế chủ động, bất ngờ tấn công quân địch trong lúc đang rã rời trong các cuộc ăn chơi, trác táng.

-    Kế sách, mưu lược được vạch ra hoàn toàn phù hợp với thực tế, hành quân thì thần tốc, tiến đánh thì dữ dội, chia cắt quân địch, dùng phương tiện chiến đấu cực kỳ lợi hại (lấy ván che chắn và đốt quân thù), bí mật tuyệt đôi cho đến khi tiến vào Thăng Long, quân địch khiếp sợ như quân ở trên trời rơi xuống, ở dưới đất chui lên... làm chúng hoảng sỢ bỏ chạy như ong vỡ tổ. Điều này rất thú vị là lịch sử cho phép ta lặp lại lần nữa khi tiến quân đánh vào Sài Gòn và giúp giải phóng đất nước, cái sỢ của quân địch hay là thế của ta đã áp đảo, đè bẹp ý chí, chống đỡ của địch!

Như vậy xuất phát từ Tam Điệp ngày 30 tháng chạp, thì mùng 3 đã chiếm đồn Hạ Hồi, mùng 5 chiếm Khương Thương và tiến thẳng vào Thăng Long, trước định mồng 7 nay mồng 5 đã chiến thắng hoàn toàn.

Cuối cùng các tác giả đã dùng một câu rất ngắn gọn vừa để kết thúc trận chiến, vừa như lộ hết ra cho người đọc thấy được hình tượng vua Quang Trung, một con 18 người hết sức bình thường mà kì diệu: “Giữa trưa hôm ấy Bắc Bình Vương tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành”. Ngắn gọn và giản dị như một chân lí, lời văn ung dung, giản dị nhưng không giấu được nỗi vui kín đáo của các tác giả.

Hình tượng vua Quang Trung là sự kết hợp tài tình giữa cái bình thường với cái phi thường. Linh hồn của đội quân lừng lẫy, đánh tan mấy chục vạn quân trong mây ngày, đặc biệt là tài thao lược, giải quyết những vấn đề trên chiến trường như không có gì khó khăn... Nói như giáo sư Lê Trí Viễn:

“Các nhà quân sự sẽ phân tích chiến lược, chiến thuật, dựng binh, tác phẩm trong chiên dịch này một cách đầy đủ, nhưng ta có thể điểm qua rằng đây có đủ hình thức đánh: tao ngộ có, nghi binh có, công kiên có, tập kích có, truy kích có, có đủ các binh chủng tham gia: có bộ binh, có tượng binh, có kị binh, có đủ hết các hướng hợp đồng: đánh vỗ mặt ở hướng chính, đánh thọc sâu ngang sườn, nghi binh đằng này, đánh thực đằng nọ. Tất cả những đặc điểm làm nên sức mạnh của đội quân Tây Sơn đến đây đã phát huy đầy đủ tác dụng. Trong thử thách của cuộc đụng độ lớn lao này, đội quân ây tỏ ra dũng mãnh thần tốc, linh hoạt sáng tạo và chiến thắng hùng hồn đến thần kỳ”.

o Nhận xét

-   Bài làm tốt, có nhiều ý sâu sắc, biết chọn lọc chi tiết để diễn tả tập trung vào hình tượng vua Quang Trung.

Tuy nhiên đôi khi đi sâu diễn giải tác phẩm nên thiếu sự cô đúc cần thiết.

Nguồn:
Ý kiến bạn đọc

may dam  |   vo thung son  |   tam lot san  |   banh xe day hang  |   dịch vụ máy chủ ảo  |   cho thuê vps giá rẻ  |   Học Trực Tuyến