Trang chủ » Cảm nhận của em về bài ‘Đức tính giản dị của Bác Hồ” của Phạm Văn Đồng
Hôm nay ngày: 24-09-2018 22:25:51

Cảm nhận của em về bài ‘Đức tính giản dị của Bác Hồ” của Phạm Văn Đồng

(Ngày đăng: 25-01-2016 10:44:44)
            Hot!   
Ngày 19/5/1970, Đảng và Chính phủ đã tổ chức trọng thể Lễ kỉ niệm 80 năn ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại buổi lễ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đọc diễn văn với nhan đề ‘Chủ tịch Hồ Chí Minh tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại’. Bài ‘Đức tính giản dị của Bác Hồ’ trích từ bài diễn văn ấy.

1.    Hai đoạn văn đầu, tác giả khẳng định ‘sự nhất quán’trong nhân cách vĩ đại của Bác hồ: ‘đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất với đời sống bình thường vô cùng giản dị và khiêm tốn’.Tiếp theo, ông ca ngợi Bác Hồ suốt đời ‘vần giữ nguyên phẩm chất cao quý của một người chiến sĩ cách mạng’.Người đã sống và chiến đấu vì một lí tưởng cao quý: ‘tất cả vì nước vì dân, vì sự nghiệp lớn’.Đao đức của Người 'trong sáng, thanh bạch, tuyệt đẹp’.Phần đầu bài văn cho thấy một giọng văn sôi nổi lôi cuốn, trang trọng, lí lẽ đanh thép hùng hồn, ngôn từ chuẩn mực, đĩnh đạc, biểu cảm: ‘Điều rất quan trọng’, ‘đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất’, ‘vô cùng giản dị và khiêm tổn’, ‘rất lạ lùng, rất kỳ diệu’, ‘một cuộc đời sóng gió’, ‘vẫn giữ nguyên phẩm chất cao quỷ’, ‘tất cả vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn, trong sáng, thanh bạch, tuyệt đẹp’.

2.    Đoạn văn thứ ba. Phạm Văn Đồng đã chứng minh một cách sáng tỏ đời sống giản dị của Bác Hồ trên ba phương diện: cách ăn, cách ở, cách làm việc.

-        Cách ăn của Bác rất giản dị: ‘bữa cơm chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi một hột cơm; ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại được sắp xếp tươm tất’.Tác giả nêu lên bốn chi tiết rất cụ thể để chứng minh cách ăn giản dị của Bác. Phạm Văn Đồng đã từng sang Quảng Cháu dự lớp huấn luyện Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức (1925), đã từng bí mật sang Vân Nam gặp Bác (1940). Và từ những ngày ở chiến khu đến cách mạng tháng Tám và suốt trong những năm dài kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, ông đã từng sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ, nên mới có thể nói một cách tí mỉ, cụ thể về cách ăn của Bác như vậy. Đây là một câu văn bình luận rất hay, từ cách ăn, tác giả ca ngợi đạo đức của Bác: ‘Ở việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ’.

-        Cách ở của Bác cũng rất giản dị. Tác giả lập luận tương phản giữa tâm hồn và cách ở của Bác; tâm hồn thì ‘lộng gió thời đại’ mà nhà ở của Bác chỉ là nhà sàn ‘vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng’. Nơi ở ‘luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn’ do tự tay Bác trồng và chăm bón. Tác giả đã bình và ca ngợi cách ở giản dị của Bác ‘thanh bạch và tao nhã biết bao’.

-        Cách làm việc của Bác càng giản dị: ‘Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc, từ việc rất lớn: việc cứu nước, cứu dân đến việc rất nhỏ...’.Phong cách làm việc ấy của Bác thể hiện một tinh thần xả thân, bền vỉ, cần mẫn, chu đáo và rất giản dị. Tác giả nêu lên bốn việc rất nhỏ Bác thường làm đế ca ngợi cách làm

việc giản dị, chu đáo của Bác như: ‘trồng cây trong vườn, viết một bức thư cho một đồng chí, nói chuyện với các cháu miền Nam, đi thăm nhà tập thể của công nhân, từ nơi làm việc đến phòng ngủ, nhà ăn’.Là Chủ tịch nước nhưng Bác rất giản dị trong sinh hoạt: ‘việc gì Bác tự làm dược thì không cẩn người giúp’.Số người giúp việc và phục vụ Hồ Chủ tịch có thể đếm trên đầu ngón tay, mỗi người được Bác đặt cho một cái tên mới ‘gộp lại là ý chí chiến đấu và chiến thắng: Trường, Kỳ, Khảng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi!’.

3.    Đoạn văn thứ tư, Phạm Văn Đồng bình luận về đời sống của Hồ Chủ tịch. Cách sống giản dị của Bác không phải là ‘sống khắc khổ theo lối nhà tu hành, thanh tao theo kiểu nhà hiển triết ẩn dật’.Đời sống giản dị, thanh bạch của Bác Hồ là một sự hòa hợp tuyệt đẹp, bởi vì Người đã ‘sống sôi nổi, phong phú đời sông và cuộc sống đấu tranh gian khổ và ác liệt của quần chúng nhàn dân’.Hòa hợp giữa ‘đời sống vật chất giản dị’với ‘đời sống tâm hển, phong phú, với những tư tưởng, tình cảm, những giá trị tinh thần cao dẹp' nhất’.Hai mặt đối lập mà thống nhất ấy, ‘là đời sống thực sự văn minh’, ‘một gương sáng’mà Bác Hồ đã nêu lén trong thế giới ngày nay. Qua đó. ta thấy cách lập luận của tác giả rất chặt chẽ, lời bình luận rất sác sảo.

4.  Đoạn văn thứ 5, giải thích và bình luận về cách nói và cách viết giản dị

của Bác Hồ. Người nói giản dị, viết giản dị vì Người ‘muốn cho quầnchúng nhân dân hiểu được, nhớ được, làm được’. Những chân lí lớn mà giản dị, là khát vọng về độc lập, tự do, thống nhất, về ấm no hạnh phúc của nhân dân ta nên Bác đã nói


lên một cách rất giản dị: ‘Không có gì quý hơn độc lập tự do’, ‘Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không bao giờ thay đổi’. Những chân lí giản dị mà sâu sắc đó là ‘'sức mạnh vô . địch’, là ‘chủ nghĩa anh hùng cách mạng’ khi nó đã thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu con người. Qua đó, tác giả đã chỉ cho chúng ta thấy tư tưởng của Hồ Chủ tịch rất sâu sắc, cách nói cách viết của Người lại rất giản dị, thấm thía.

Văn bản này là một bài văn nghị luận hỗn hợp, tác giả đã kết hợp một cách chặt chẽ giữa ba thao tác giải thích, chứng minh, bình luận về ‘đức tính

giản dị của Bác Hồ’trong đời sống sôi nổi, phong phú, và cách nói cách viết rất giản dị về những chân lí lớn, những tư tưởng vĩ đại.

Văn bản nghị luận này thể hiện một lối viết đặc sắc, mẫu mực. Lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng cụ thể, chọn lọc, rất tiêu biểu, lời bình luận sâu sắc, đầy thuyết phục, cách sắp xếp, trình bày lí lẽ, dẫn chứng khúc chiết, sáng tỏ. Giọng văn sôi nổi, tâm huyết, trang trọng, tự hào.

Qua văn bản này, tác giả đã nâng cao lòng kính yêu và biết ơn Bác Hổ trong tâm hồn mỗi chúng ta. Hơn bao giờ hết, bài ‘Đức tính giản dị của Bác Hồ’ là một bài học quý báu đối với tuổi thơ chúng ta cả về tư tưởng, cả về văn chương.

BÀI SỐ 149

Phân tích bài ‘Ý nghĩa văn chương’đê cho thấy cách viết tài hoà, độc đáo của Hoài Thanh.

Hoài Thanh (1909 - 1982) là cây bút phê bình xuất sắc. Những bài bình thơ của ông rất đặc sắc, tài hoà. Tên tuổi ông trở thành bất tử với tác phẩm ‘Thi nhân Việt Nam’ (1942).

Bài ‘Ý nghĩa văn chương’ của Hoài Thanh viết đã trên 60 năm, nhưng ngày nay chúng ta đọc vẫn tìm được nhiều điều thú vị.

Hai chữ ‘văn chương’ trong bài này mang nghĩa hẹp, đó là những tác phẩm thơ văn, là vẻ dẹp của câu thơ, lời văn. Chỉ là một bài báo ngắn, nên Hoài Thanh chỉ nói được một số điều, một số ý kiến về ý nghĩa văn chương.

Tác giả vào đề bằng một câu chuyện đời xưa kể chuyện một thi sĩ .Ân Độ đã khóc nức nở khi nhìn thấy một con chim bị thương..., tác giả chỉ ra rằng: ‘Tiếng khóc ấy, nhịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca’. Hoài Thanh đã vào đề một cách có duyên, nhẹ nhàng, hấp dẫn. Cách mở bài ấy được gọi là ‘dụ khởi’ (lối mở bằng ví dụ: ‘Hịch tướng sf’ của Trần Quốc Tuấn cũng có cách mở bài như thế). Từ câu chuyện hoang đường ấy, tác giả nêu rõ nguồn gốc của văn chương là gì ? - Đó là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muốn loài. Nói một cách khác, hiểu một cách khác: cảm hứng thơ văn là tình thương.

Ý nghĩa văn chương là ‘hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống’. Nguồn gốc của văn chương ‘cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha’. Hoài Thanh đã có một cách nói riêng, chỉ ra hai chức năng của văn chương là nhận thức và giáo dục. Văn học phản ánh hiện thực, nâng cao nhận thức hiện thực, giúp người đọc ‘hình dung sự sống muôn hình vạn trạng’', văn học còn ‘sáng tạo ra sự sống’,đó là điều kì diệu của thơ văn. Ví dụ, ta đọc những bài thơ như ‘Khoảng trời, hô' bom’ (Lâm Thị Mỹ Dạ), ‘Bài thơ về tiểu đội xe không kính’ (Phạm Tiến Duật)..., ta hình dung được, tái hiện được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta trải qua muôn vàn khó khăn ác liệt, tuổi trẻ Việt Nam rất anh hùng:

‘Không có kính, không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng...’

(Phạm Tiến Duật)

Nguồn gốc của văn chương ‘là tình cảm, là lòng vị tha’-, thơ văn đích thực có ‘mãnh lực lạ lùng’ có thể làm cho độc giả vui, buồn, mừng, giận... Đó chính là tính giáo dục của văn chương. Văn chương có tính nhân bản đã góp phần nhân đạo hóa con người. Quan niệm của Hoài Thanh về nguồn gốc, về cồng dụng của văn chương rất tiến bộ, đúng đắn. Ta yêu kính cha mẹ hơn, hiếu thảo hơn khi đọc bài ca dao ‘Công cha như núi Thái Sơn’. Ta thầm nhớ công ơn người trồng cây, gieo hạt, nhờ họ, ta được nếm hương đời,vị đời:

‘Ai ơi bưng bát cơm đầy,

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần’

Văn chương rất kì diệu, thể hiện những ước mơ, khát vọng của con người, ‘gây cho ta những tình cảm ta không có (hoặc sẽ có), luyện những tình cảm ta sẵn có’ như Hoài Thanh đã nói. Thương người, yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên, say mê học tập và lao động, sáng tạo, mơ ước vươn tới những chân trời bao la,... những tình cảm ấy là do cuộc sống, do văn chương mà tâm hồn ta được bồi đắp.

Vãn chương làm cho cuộc đời thêm đẹp, cuộc sống thêm sắc màu ý vị, phong phú hơn, đẹp đẽ hơn. Đúng như tác giả đã viết: ‘Cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần’.

‘Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân...’

(Vũ Bằng)

‘Khi chén rượu, khi cuộc cờ,

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên’

(‘Truyện Kiều’ -Nguyễn Du)

Cuộc đời không thể thiếu văn chương. Văn chương sáng tạo ra cái đẹp, làm cho ta thấy cuộc đời đẹp hơn, đáng yêu hơn. Hoài Thanh đã dùng hình ảnh gợi cảm để diễn tả ý đó: ‘từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ trông mới đẹp; từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay’.

‘Côn Sơn suối chảy rì rầm,

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai’

(‘Côn Sơn ca’- Nguyễn Trãi)

‘Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,

Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo’...

(‘Khốc Dương Khuê’- Nguyễn Khuyến)

‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoà’...

(‘Cảnh khuya’- Hồ Chí Minh)

Vai trò, vị thế của văn nhân, thi sĩ rất to lớn. Nhân loại, các dân tộc, nếu ‘xóa các thi nhân văn nhân’, nếu ‘xóa hết những dấu vết họ còn lưu lại’ (tác phẩm) thì xã hội và cuộc đời sẽ ‘nghèo nàn’ đến bực nào ! Cảm xúc của Hoài Thanh như tràn ra trang giấy.

Bàn về ý nghĩa văn chương, Hoài Thanh đã đưa ra những lí lẽ xác đáng về nguồn gốc và công dụng của thơ văn. Giá trị nhân bản và tính nhân văn của văn chương đã được tác giả nêu bật một cách sáng tỏ. Cách viết nhẹ nhàng, biểu cảm, sử dụng hình ảnh có duyên và đậm đà, do đó lý lẽ của Hoài Thanh nêu ra tuy không mới, nhưng đầy sức thuyết phục

Nguồn:
Ý kiến bạn đọc

may dam  |   vo thung son  |   tam lot san  |   banh xe day hang  |   dịch vụ máy chủ ảo  |   cho thuê vps giá rẻ  |   Học Trực Tuyến