Trang chủ » Phân tích bài thơ Bếp Lửa của Bằng Việt
Hôm nay ngày: 21-11-2018 03:10:10

Phân tích bài thơ Bếp Lửa của Bằng Việt

(Ngày đăng: 15-09-2015 11:09:31)
            Hot!   
Phân tích bài thơ Bếp lửa: Thời thơ ấu của Bằng Việt xuất hiện đôi nét trong bài Từ chiến trường viết lại cho con. Đó là sau ngày Nhật đảo chính Pháp, được mẹ ẩm trên tay rời khỏi thành phố Huế trở về quê nội ở miền Bắc (Thạch Thất - Sơn Tây).

Rồi chẳng bao lâu anh lại ngồi trong lòng thúng để bà nội quẩy đi “tản cư” ở chân núi Ba Vì khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra. Và tuổi thơ của anh đã tắm mình trong sự dìu dắt của đội Thiếu niên Tiền Phong. Đó cũng là quãng thời gian trong lòng anh hình thành một tình bà cháu “đẹp như trong truyện cổ tích”. Học xong phổ thông, Bằng Việt được cử đi học Đại học Luật ở nước ngoài, nhưng trong tâm hồn anh vẫn không quên những hình ảnh kỳ diệu toả ra từ những cuốn sách đọc dưới mái trường tản cư ở quê nhà. Anh tiếp tục làm thơ và Bếp lửa là tập thơ đầu tay anh sáng tác khi còn ở nước ngoài, sau đó được in chung với Hương cây của Lưu Quang Vũ.

Say mê làm thơ, tháng 12 năm 1969, anh xin chuyển từ Viện Luật học sang Hội Nhà văn. Để mở rộng tầm nhìn, nhận thức được cuộc sống đa dạng, anh xin đi thực tế ở chiến trường Bình Trị Thiên, và đến khi chiến dịch Đường 9 Nam Lào mở ra, anh xin đi vào Nam lần thứ hai với tư cách là phóng viên biệt phái vào quân đội. Quả nhiên cuộc sống nơi chiến trường là chiếc đũa thần đã nhào nặn nên sức sáng tạo trong thơ Bằng Việt tước bỏ những gì quá hoa mĩ, bớt chi tiết rườm rà thiếu truyền cảm để đi sâu vào thực tế tràn đầy chất sống chân thực. Lời thơ thuần phác, ý thơ gợi lên sự kiên gan của một dân tộc, quí hơn nữa là những suy nghĩ chín chắn về sự hy sinh lớn lao của nhân dân... đã dần xuất hiện trong thơ Bằng Việt.

Hiệp định Paris được ký kết, Bằng Việt từ chiến trường trở ra Hà Nội, tiếp tục tìm hướng mở ra của bài thơ.

- Bài thơ Bếp lửa Bằng Việt viết năm 1963, khi anh còn đang học tập ở nước ngoài. Bài thơ gợi lại những kỷ niệm về tình bà - cháu, lời thơ như vút cao lên lòng kính yêu và biết ơn sâu sắc đối với bà. Trong bài Đôi dồng tiễn đưa bà nội, một lần nữa Bằng Việt đã vẽ nên bức chân dung của những bà cụ thầm lặng yêu thương con cháu, đỡ đần bao nhiêu việc không tên. Bổ sung cho bài Bếp lửa trước kia, hình ảnh bà cụ càng rõ nét:

Đôi mắt càng già càng thấm thìa yêu thương Dù da dẻ khô đi tấm lòng không hẹp lại Giàu kiên nhẫn bù cồn hy vọng mãi Chỉ một ngày rắn lụi, ít lời thêm.

“Đó là bài thơ cảm động về lòng hiếu thảo không gặp nhiều trong văn học hiện đại của chúng ta” (Nguyễn Xuân Nam).

Đi theo diễn biến tâm tư của nhân vật người cháu, bài thơ có đoạn mở đầu và 2 phần:

+ Đoạn mở đầu: Gồm ba câu đầu, hình ảnh bếp lửa hiện ra trong tâm hồn tác giả và gợi nhớ đến hình ảnh người bà nội thân thương. (Coi như đoạn mở đầu nêu ý nghĩa tổng quát của bài thơ).

+ Phần 1: Người cháu nhớ lại những kỷ niệm sâu sắc về những ngày bà cháu sống với nhau, khi bố mẹ đi làm xa vắng.

+ Phần 2: Cháu đã lớn khôn, nhưng mỗi khi nhớ đến bà là nhớ luôn cả “bếp lửa”. Hai hình ảnh hiện lên song song.

1.    Đoạn mở đầu nêu những hình ảnh:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

Từ láy “chờn vờn” và “ấp iu” cho ta hình dung một bếp lửa đượm, nhóm lên từ trong sương sớm (đây là hình ảnh tượng trưng của cuộc sông nông thôn) và từ cái ánh lửa chờn vờn ấy, tác giả hoà hai hình ảnh vào nhau: “bếp lửa” và “tình cảm với bà”, người nhóm lên ngọn lửa “nồng đượm”! Nhưng chưa đủ sức biểu hiện cảm xúc, nên nhà thơ nhớ về quê nhà xa xăm nói rõ thêm: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. “Lòng thương bà” so sánh với “biết mây nắng mưa”, cụ thể hoá tình cảm trong hai vế của một câu thơ. Vì vậy có thể coi ba câu đầu là “đề từ” hay lời “mở đầu” cho bài thơ.

2.   Những kỷ niệm về bà sâu sắc, suốt đời không quên. Trước hết là nỗi đói khổ, vất vả ở cái tuổi đã biết nhớ: “lên bốn tuổi” và cái “đói mòn, đói mỏi” kèm theo cả hình ảnh của bố làm chứng tích “Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”...

Như thế là tám năm ròng hai cháu cùng nhóm lửa, đun nấu. Tác giả không kể lại, mà chỉ nhớ lúc đó là “hum nhèm” và cho đến hôm nay, nghĩ lại “sống mũi còn cay”. Đó là kỷ niệm sâu sắc nhất.

Kỷ niệm thứ hai là tiếng kêu của con chim tu hú (một loài chim không biết hót mà chỉ kêu). Nó kêu ở cánh đồng xa, tha thiết, như nhắc bà nhớ đến những ngày ở Huế. Và đã nhiều lần tác giả nói đến tiếng kêu của con chim tu hú ở hai khổ thơ 3, 4, để nói đến sự vang vọng của nó vào cuộc sống của hai bà cháu. Con chim này thường kêu vào tháng trước mùa gặt lúa chiêm. Đối với năm 1945, đó là những tháng ngày nạn đói hoành hành dữ dội nhất. Phải chăng nhớ đến cái “đói mòn đói mỏi” là tác giả nhớ đến tiếng chim tu hú.

- Kỷ niệm thứ ba là cha mẹ công tác bận không về, hai bà cháu ở với nhau, cũng có nghĩa bà nuôi dạy cháu thay cha mẹ. Bà dạy cháu học, cháu làm, và

61

 

dạy cháu nhóm bếp lửa, bởi vậy tác giả thương bà khó nhọc. Một suy nghĩ ngây thơ là muôn con chim tu hú đến ở cùng bà để chia sớt nỗi vất vả tinh thần hay nhà thơ chỉ không muôn con chim cứ kêu hoài trên những cánh đồng xa mà gợi nhớ bao nỗi buồn?

- Kỷ niệm cuối cùng, cũng là khổ thơ kết thúc phần 1, một kỷ niệm buồn đau gởi “giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”. Hàng xóm dựng cho hai bà cháu một túp lều tranh. Nhưng lòng bà vẫn vững vàng tin tưởng, dặn cháu có viết thư cho bô" “chớ kể này, kể nọ. Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”! Nhân cách của người bà qua lời dặn cháu vừa thể hiện lòng yêu nước thầm lặng, vừa “ghi lòng tạc dạ” cho đứa cháu một thái độ cứng cỏi, tin tưởng vào tương lai của đất nước. Một người bà như thế làm sao quên được và qua lời thơ, Bằng Việt cũng xứng đáng là người cháu của bà!

Rồi sâm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dắng

Đó là điệp khúc một bài ca nhắc lại phần miêu tả dàn trải trên kia.

3.  Hai chữ “bếp lửa” được nhà thơ nói đến hơn 10 lần (không kể một lần nói gián tiếp - mùi khói). Nói đến “bếp lửa” là nhớ đến bà. Như vậy sự xuâ't hiện “bếp lửa” là cung bậc tình cảm của người cháu đối với bà. “Bếp lửa” trong tâm trí, hồi ức của người cháu đã trở nên một điều kỳ lạ, thiêng liêng, đó là ngọn lửa thần rực rỡ, lung linh: Bài thơ mở ra với bếp lửa chờn vờn và khép lại với hình ảnh cuộc sống của người cháu đã lớn khôn nhưng không quên hỏi bà:

Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

Như vậy, trong tâm trí của cháu, hình ảnh người bà mãi mãi gắn liền với “bếp lửa” và cái “bếp lửa” ấy không bao giờ phai mờ trong cháu. “Bếp lửa” trong bài thơ vừa có nghĩa thực, mặt khác còn là biểu tượng của sự sống vui, ấm áp nghĩa tình gia đình, cùng với sức sống bền bỉ của con người! Ôi kỳ lạ và thiêng liêng - “bếp lửa”.

Nguồn:
Ý kiến bạn đọc

may dam  |   vo thung son  |   tam lot san  |   banh xe day hang  |   dịch vụ máy chủ ảo  |   cho thuê vps giá rẻ  |   Học Trực Tuyến