Trang chủ » Phân tích bài thơ Đập Đá Ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh
Hôm nay ngày: 17-11-2018 18:19:22

Phân tích bài thơ Đập Đá Ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh

(Ngày đăng: 09-09-2015 09:38:43)
            Hot!   
Phân tích bài thơ Đập Đá Ở Côn Lôn của nhà thơ Phan Chu Trinh. Dưới đây là bài phân tích, bài soạn và bài hướng dẫn cách phân tích những bài thơ Đường Luật, chúc các bạn làm bài thật tốt.

I.    PHAN CHẦU TRINHtự là Tử Can, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu là Hy Mã, người làng Tây Lộc, huyện Tuyên Phước, tỉnh Quảng Nam, sinh vào tháng tám năm Nhâm Tuất (1872). Thân phụ ông là Phan Văn Bình theo nghề võ và đã chiến đấu tích cực trong hàng ngũ cần Vương, thân mẫu là Lê Thị Chung, một người đàn bà đảm đang và có nhiều đức' hạnh.

Năm 1900, ông thi đậu cử nhân, năm 1901 ông thi đậu luôn Phó bảng và năm 1902 ông được nhậm chức Thừa biện Bộ Lễ tại triều đình Huế.

Năm 1905, ông làm giấy từ quan rồi bắt đầu hoạt động chính trị cùng với các Ông Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can v.v ... Ong bí mật sang Trung Hoa để nghiên cứu về quốc kế dân sinh và đã gặp Phan Bội Châu tại đây. Sau đó hai ông lại cùng sang Nhật. Ở đó chừng 10 tháng, Phan Châu Trinh trở về nước.

Năm 1908, nhân có nhiều cuộc biểu tình chống thuế tại Trung Kì, thực dân Pháp liền buộc ông đã nhúng tay vào việc đó, bắt giam ông .cùng với Trần Quý Cáp. Sau đó chúng đày ông ra đảo Côn LÔ11. Bài thơ Đập đá ở Côn Lổnra đời trong hoàn cảnh ấy.

II.  Trước Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, đá số các văn gia thi sĩ, mỗi khi gặp những cảnh sa cơ, lỡ vận thường có ba thái độ:

Hoặc là tin vào sự biến dịch: “bĩ cực thái lai” rồi ngồi yên thúc thủ chờ thời:

Hẳn bền lòng chớ chút oan vưu

Thời chí hỷ ngư long biến hóa.

Thôi đã biết cùng thông là mệnh cả,

 

Cũng đừng đem hình dịch lại cầu chỉ,

Hơn nhau cũng một chữ “Thì ”!

(Cuộc phong trần,Cao Bá Quát)

Để rồi cuối cùng cố quên nỗi khổ não chứa chất trong tâm hồn bằng cách “uống rượu tiêu sầu”, hoặc nữa là lẩn tránh không dám nhìn vào thực tại và cuối cùng đắm mình trong thiên nhiên hoặc trong thế giới tưởng tượng để tìm lấy ởđó một nguồn an ủi bất tận như trường hợp của Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh v. v...

Hoặc là giãi bày những lời thở than oán trách, châm biếm “thiên hạ tự”để cho vơi đi một chút u uất, và cuối cùng là tư tưởng nhớ nhung hoài cổ như trường hợp Trần Tế Xương, Bà Huyện Thanh Quan v. v...

Đêm đêm tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

(T. T. Xương)

Phan Châu Trinh thì khác hẳn. Là một nhà cách mạng lấy việc giải phóng dân tộc làm lẽ sống, nên trước những nỗi gian nan đau khổ, giữa cuộc đời tù đày cơ cực, ngày ngày phải xách búa đi đập đá - xa quê hương, xa đồng chí không một lời an ủi dịu hiền - mà ông vẫn khẳng khái, coi đó chỉ là một sự thử thách ý chí mình. Ông diễn tả lòng cương quyết phá núi:

Xách búa đánh tan năm bảy đống Ra tay đập bể mấy trăm hòn...

Nhưng thực ra công việc đập đá ở đây chỉ có một giá trị tượng trưng - nó tượng trưng cho những trở ngại ghê gớm trên bước đường lập chí của ông đó thôi. Bởi vậy, ông cương quyết phá núi thế nào thì đồng thời ông cũng cương quyết phá tan mọi trở ngại san bằng những chông gai cũng như thế. Ý chí quyết chiến và quyết thắng của ông đã làm cho ta chợt nhớ tới ý chí quyết chiến và quyết thắng của Nguyễn Công Trứqua những câu: Cũng có lúc mưa dồn, sóng vỗ Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.

Chí những toan xẻ núi, lấp sông,

Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ.

Do đó, ta có thể nói được rằng: đôi với ông, những sự đau khổ thất bại không phải là một động lực làm cùn nhụt ý chí chiến đấu, mà là hun đúc cho tinh thần chiến đấu thêm già dặn, đanh thép để thẳng tiến tới mục đích. Thực đúng với câu nói của một nhà cách mạng châu Âu trước kia: “Cái bước lùi của những chiến sĩ không phải là bước lùi đế thúc thủ mà là sửa soạn để nhảy được xa hơn”.

Vì thế, ta không ngạc nhiên khi đọc hai câu kết luận của ông:

“Những kẻ vá trời khi lỡ bước Gian nan nào sá sự con con”.

Xem như vậy thì ta không khỏi thây: nội dung bài thơ “đập đá”trên đây đã trưng lên giá trị lành mạnh và một hướng “đi lên” rõ rệt. Nó xứng đáng là một bài thơ cách mạng của một con người cách mạng.

Bài thơ trên đây không chỉ có giá trị tiêu biểu trong phạm vi nội dung, mà còn có giá trị tiêu biểu trong phạm vi hình thức nữa. Mà thực vậy, nội dung của nó mạnh mẽ bao nhiêu thì lời văn của nó lại cũng rắn rỏi, quyết liệt bấy nhiêu.

Ngay trong câu phá đề và thừa đề, lối dùng chữ của tác giả đã đủ trác tuyệt rồi:

“Làm trai đứng giữa đất Cồn Lôn Lừng lẫy làm cho lở núi non

Mỗi chữ đặt vào đây đều bao hàm một hình ảnh sinh động và một sức sông sôi nổi. Ví dụ như tiếng “đứng”, tiếng 'Hừng lẫy” đủ gợi cho ta trông thấy hình ảnh một trang nam nhi, đầu đội trời, chân đạp đất, đứng hiên ngang trước cảnh núi non biển rộng, coi thường sóng gào, gió thét quanh mình, nhất quyết lấp sông, phá núi để đạt tới cho bằng được mục đích cao cả của mình. Tiếng “đứng” ởđây có một giá trị gợi cảm đặc biệt, đặc biệt không kém gì tiếng “đứng”của Nguyễn Công Trứ trong câu:

“Làm trai đứng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông”.

-   Nghệ thuật dùng chữ của tác giả không những chỉ có giá trị gợi hình và gợi cảm như vừa nói trên mà còn nằm ở trong cách dùng chữ đối chọi đến “nảy lửa” trong hai câu thực và hai câu luận nữa. Mà thực thế, còn có những tiếng nào đối chát với nhau bằng những tiếng.

Xách búa                 đối với           ra tay

Đánh tan                  đối với           đập bể

Năm bảy đống         đối với           mấy trăm tròn

đôi với            mưa nắng

đối với            chi sởn

đôi với            dạ sắt son

III.   Bài thơ ghi dấu một chặng đường hoạt động chứ chưa khép lại đường đời của con người đầy khí phách hiên ngang. Sau hai năm bị đày, Phan Chu Trinh được “ân xá

Vì nhận thấy tranh đâu tại nước sẽ có rất ít kết quả, nên năm 1911, ông đã theo toàn quyền Klobukowsky sang Pháp. Đi theo ông, có người con trai duy nhất là Phan Chu Dật.

Năm 1925, ông trở vế Nam Kì vào khoảng tháng 6 và có tổ chức mấy cuộc diễn thuyết quan trọng nói về Quân trị Chủ nghĩa và Dân trị Chủ Nghĩa, Đạo đức và luân lý Đông, Tây. Trong thời gian này, tuy bị đau, nhưng ông vẫn tích cực vận động và ký tên vào bản xin ân xá cho ông Phan Bội Châu.

Ngày 24-12-1925, khi khi được tin ông Phan Bội Châu đã được toàn quyền Va-ren-ne ký giấy ân xá, ông định ra Huế gặp người bạn già để hàn huyên, tâm sự thì bị đau và mất ngày 24-3-1926. Toàn quốc thụ tang ông.

Theo hướng dẫn đọc bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác. Với những bài thơ Đường luật học sinh có thề kẻ theo khung hình dưới để tìm hiểu nghệ thuật và nội dung trước khi phân tích.

HP A

Tên

gọi

Thơ

Nghĩa thực

Nghĩa suy diễn

Nghệ thuật

Đề

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn. Lừng lẫy làm cho lở núi non.

- Chàng trai đứng giữa núi đầy đá.

- Chàng trai ngạo nghễ, lẫm liệt đứng giữa bao cam go, thử thách.

- Ngoa dụ được dùng ở câu 2.

Thực

Xách búa đánh tan năm bảy đông. Ra tay đập

bể mấy trăm hòn.

- Tư thế và kết quả của việc đập đá

- Đã vượt qua bao nhiêu khổ cực, gian lao nhờ vào nghị lực

- Phép đối và ngoa dụ

 

Luận

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi. Mưa nắng càng bền dạ sắt son.

Khổ cực không thể làm

mềm lòng người có kinh nghiệm sống.

Người dạn dày sương gió Với lòng trung kiên thì càng khó khăn càng vững chí.

- Phép đối và từ tượng trứng, biểu hiện.

Kết

Những kẻ vá trời khi lỡ bước Gian nan chi kể việc con con.

- Chuyện khổ cực chỉ là chuyện nhỏ đôi với người có chí lớn.

- Người mu’ll cầu việc lớn thì ở tù chỉ là chuyện nhỏ.

- Dùng điển tích bà Nữ Oa đội đá vá trời.

 

dap da o con lon, soan bai dap da o con lon, phan tich bai tho dap da o con lon, cam nghi ve bai tho dap da o con lon

Nguồn:
Ý kiến bạn đọc

may dam  |   vo thung son  |   tam lot san  |   banh xe day hang  |   dịch vụ máy chủ ảo  |   cho thuê vps giá rẻ  |   Học Trực Tuyến