Trang chủ » Phân tích bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên
Hôm nay ngày: 17-11-2018 18:02:36

Phân tích bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên

(Ngày đăng: 17-09-2015 16:02:30)
            Hot!   
Phân tích bài thơ Ông Đồ: Bài thơ ghi lại quá trình từ huy hoàng đến “tiều tụy đáng thương ” của ông đồ, biểu tượng của Nho học.

a.Hình ảnh ông đồ ở hai khổ thơ đầu.

. - Ông đồ là ai? Sống vào thời nào?

-   “Mỗi năm hoa đào nở” là câu thơ chỉ thời gian. Đó là mùa nào? Nhờ từ nào trong câu thơ mà em biết?

-   Ông đồ làm gì, ở đâu trong mùa ấy?

-   Mùa xuân thuở ấy thời Hán học cồn thịnh thành, ông đồ có quan

hệ mật thiết với mọi người. Mọi người tấm tắc khen       ngợi ông  ra sao?

-   Hai khổ thơ ấy mang không khí vui hay buồn ?      Thời kỳ        vàng son

cửa ông đồ là như thế!

b.                 Hình ảnh ông đồ ở hai khổ thơ kế tiếp (3-4)

-   “Nhưng mỗi năm mỗi vắng - người thuê viết nay đâu?” thông báo và câu hỏi ấy mang đến cho em suy nghĩ gì?

-   “Ông đồ vẫn ngồi đấy”, những người qua đường đối với ông như thế nào?

-   Người không còn thuê viết câu đối thì tất yếu“giấy đỏ buồn...- Mực đọng... - mưa bụi bay Em có cảm xúc gì khi đọc 4 câu thơ còn lại trong hai khổ thơ 3 và 4 ẩy?

*  Toàn bộ bài thơ ngũ ngôn được toàn vần chéo {nở -đỏ / già - qua/ viết - nét/ tài - bay/ ...) nhịp điệu thơ phù hợp với từng hoàn cảnh. Hai câu thơ mang câu hỏi tu từ như tiếng nấc uất nghẹn của kẻ hết thời!

I.Vũ Đình Liên gốc người Hải Dương, học tập và làm việc ở Hà Nội, và là một trong những nhà thơ thuộc giai đoạn đầu tiên của phong trào Thơ mới.

Vũ Đình Liên chưa in tập thơ nào, nhưng thơ ông đã được chọn đăng trên báo Phong hóa, Tinh hoa, Phụ nữ thời đàm,... Đọc những bài thơ ấy người đọc thấy xúc động bởi lòng thương người và tâm hồn hoài cổ của ông. Đã một lần người đọc rung động với những vần thơ:

Lòng ta là những hàng thành quách cũ,

Tự ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xưa.

Thì sau đó không lâu, người đọc lại ngậm ngùi thổn thức với bài thơ Ồng đồ, hình ảnh mà Vũ Đình Liên đã cho rằng “Ông chính là cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn <5

II.    Bài thơ như một thiên phóng sự buồn về đời của ỏng đồ. Ngày xưa, trước khi quân Pháp xâm lược, người Việt học chữ Nho, cô" thi cho đỗ đạt để được nhà nước (vua) bổ ra làm quan. Người thi đỗ nhưng không muốn làm quan, những người thi trượt thường mỏ lớp dạy học ở nhà. Mỗi dịp Tết đến, nhà nhà đều treo vài câu đối để trang trí cùng cành đào, cành mai. Ấy là thời hoàng kim với hình ảnh:

Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phô' đông người qua.

Bốn câu thơ là bốn câu giới thiệu, mỗi câu có hình ảnh mang ý nghĩa riêng. “Hoa đào nở” là biểu tượng của mùa xuân: thời gian. “Ông đổ già'’ biểu tượng của trí thức xưa. “Mực tàu giấy đỏ” là những vật dụng học tập, viết lách. Đấy là hình ảnh về con người. “Bên phố” là nơi chốn. Bốn câu thơ giới thiệu thời gian, con người và nơi chôn. Lời thơ nhẹ nhàng, tươi vui thật phù hợp với hình ảnh “đông người qua". Khung cảnh, không khí thơ càng vui hơn khi thấy cảnh:

Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài “Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay”.

Bốn câu thơ gợi nên cảnh thanh bình thịnh vượng của một thời. Phô" đông người đi chợ Tết. Họ mua sắm nhiều thứ cho ba ngày Tết; và không quên dừng lại góc phô" nơi ông đồ như người nghệ sĩ múa chữ trên giấy mà ngày nay chúng ta thường bảo viết theo lối thư pháp. Đọc bốn câu thơ, người đọc vui theo sự bận rộn “thảo những nét như phượng múa rồng bay ” của ông đồ. Ây là thời hoàng kim của ông, cũng là thời đại hoàng kim của Nho học.

Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm;

Mực đọng trong'nghiên sầu...

Thiên phóng sự về ông đồ đã chuyển qua cảnh buồn, vẫn là góc phố ấy. vẫn là ông đồ già ấy. vẫn là thời gian mùa xuân như baonăm về trước. Nhưng người thuê viết cứ thưa thớt dần. “Người thuê viết nay đâu?”, dù là nhà thơ hay Ông đồ thì câu hỏi tu từ ây cũng gây cho người đọc một chút nao lòng. Và ngậm ngùi biết bao khi đọc hai câu thơ nhân hóa với các từ “giấy buồn, nghiên sầu”. Và cảnh càng buồn tủi, càng cô độc hơn ở khổ thơ:

Ông đồ vẫn ngồi dấy,

Qua đường không ai hay,

Lá vàng rơi trên giấy;

Ngoài trời mưa bụi bay.

Ngay cả trong thanh điệu, bốn câu thơ cũng mang không khí lạnh lùng, thứ lạnh lùng của những kẻ chóng quên quá khứ xem nhẹ truyền thống lễ lược, hội hè. Tại sao thế? Chúng ta cần nhớ truyện kí, thơ ca... xuất phát từ đời sống thực. Cảnh “Ông đồ vẫn ngồi đấy / Qua đường không ai hay / ..." trong thơ Vũ Đình Liên cũng xuất phát từ cảnh thực. Bởi vậy mà truyện kí, thơ ca... cũng là chứng nhân của lịch sử, cảnh “không ai hay” (biết) ông đồ cũng là hệ quả của lịch sử Việt Nam thời bấy giờ.

Giữa thế kỷ XIX, chính quyền thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam. Đi kèm với “tàu đồng tàu sắt, đạn nhỏ đạn to" (Nguyễn Đình Chiểu) là văn hóa, giáo dục, đạo Ki-tô (Thiên Chúa) và lối sống phương Tây. Sau khi ổn định xong việc cai trị, chính quyền thực dân cải tổ việc học hành thi cử bằng cách lây mẫu tự La-tinh ghi âm tiếng Nôm thành chữ quốc ngữ, xây dựng trường học, thay đổi việc thi cử,... Chữ quốc ngữ, chữ Pháp dần dần thay chữ Nho trong các trường học, các bảng thông báo, yết thị,... và nhất là cho ấn hành các tờ nhật báo, tạp chí. Năm 1915, khi chính quyền thực dân cho bãi bỏ các kì thi Hương, thi Hội thì Nho học chấm dứt. Thanh niên trí thức thời bây giờ chạy theo cái mới, lạnh lùng để lại ông đồ già, tờ giấy đỏ, nghiên mực giữa lá vàng, mưa bụi bên góc phố xưa...

Thế rồi:

Năm nay đào lại nở,

Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?

Với đời sông sinh hoạt của con người, thông thường thì cái mới dễ dàng thắng thế. Việc “không thấy ông đồ xưa” bên góc phô" cũ cũng là lẽ tất yếu từ sự ấu trĩ, nông nổi của thanh niên thời bấy giờ. Thế nhưng khi đọc lại bôn câu thơ trên, nhất là câu thứ hai và câu cuối, bạn đọc nghĩ gì, có cảm xúc gì? Cũng là những con chữ bình thường, giản dị nhưng sao khi đọc lên ta cảm thấy chua chát lẫn ngậm ngùi thương tiếc đến ngẩn ngơ, nhất là nhìn vào dấu chấm hỏi (?) tu từ ở cuối bài. Một cái dấu tìm kiếm trong tâm trạng tuyệt vọng.

Bài thơ ngũ ngôn có 5 khổ khắc họa hình ảnh ông đồ già,biểu tượng của Nho học. vần điệu, ngôn ngữ gợi hình không mới lạ nhưng đọc lên ta cảm thấy xúc động dạt dào. Khi viết về thơ Vũ Đình Liên, Hoài Thanh - Hoài Chân nhận định: “Hai nguồn thỉ cảm chính của người là lòng thương người và tình hoài cổ. Người thương kẻ thân tàn ma dại, người nhớ những cảnh cũ người xưa. Có một lần hai nguồn cảm hứng ấy gặp nhau và để lại cho chúng ta một bài thơ kiệt tác: Ông đồ”.Sau gần trăm năm suy thoái, thì nay, mỗi năm khi đào nở, lại thấy “ông đồ xưa".Ớ suôi vàng, có lẽ cụ Vũ Đình Liên đã thây lòng mình ấm lại và nở nụ cười hiền...

Nguồn:
Ý kiến bạn đọc

may dam  |   vo thung son  |   tam lot san  |   banh xe day hang  |   dịch vụ máy chủ ảo  |   cho thuê vps giá rẻ  |   Học Trực Tuyến