Trang chủ » Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận
Hôm nay ngày: 23-07-2018 18:20:28

Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

(Ngày đăng: 15-09-2015 11:02:14)
            Hot!   
Phân tích bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá: Biển cả, người mẹ vĩ đại của nhân loại không những đem đến cho chúng ta những nguồn sông thực, mà cả niềm vui trong lao động.

Lao động để tạo ra của cải cho xã hội và bản thân, tuy vất vả, nhọc nhằn, nhưng lại đem đến cho những con người cần mẫn, chăm chỉ những điều diệu kì và cao đẹp nhất. Đề cập đến vấn đề này, nhà thơ Huy Cận đã gửi cả tâm hồn cảm xúc của mình vào bài thơ nổi tiếng: Đoàn thuyền đánh cá.

Khi kháng chiến chông Pháp thắng lợi, nhân dân miền Bắc đang bắt tay vào công cuộc xây dựng quê hương, trong chuyến đi thực tế năm 1958 tại Hồng Gai, những ngư dân hăng say lao động trên vùng biển tuyển đẹp của đất nước... Vịnh Hạ Long trong không khí biển trời của đất nước thanh bình đã đem cảm hứng cho Huy Cận. Có lẽ chính vì thế mà bài thơ mang đậm màu sắc lý tưởng, động viên tinh thần lao động cho mọi tầng lớp nhân dân. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá xuất hiện năm 1958 trích trong tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng. Trong bài thơ, hai khổ thơ đầu được dệt nên bằng những cảm xúc chân thành nhất và đề cập đến niềm vui, sự phấn khởi trong lao động một cách rõ ràng nhất:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi Hát rằng: Cá bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!

Bài thơ bắt đầu bằng cảnh sắc thiên nhiên thật tự nhiên và nhẹ nhàng. Trong khổ thơ của mình, nhà thơ Huy Cận không chọn thời điểm ra khơi của đoàn thuyền là khi trời còn sáng rõ hay lúc đã tối đen mà là lúc mặt trời vừa lặn xuống biển. Thiết nghĩ, khoảnh khắc thanh bình và huyền diệu này thật đáng nói lắm vậy. Trong bao đời nay, thi ca thường nói đến cảnh mặt trời khuất sau những rặng núi tím hồng. Nhưng ở đây, cảnh mặt trời xuống biển ở phía Tây chỉ có thể được nhìn thấy khi nhà thơ đứng từ đảo xa về phía đất liền, ý thơ độc đáo này đã tô điểm nên một cảnh đẹp, khác thường, lộng lẫy mang một nét gì thật hùng vĩ, hiên ngang. Chỉ sau một câu ngắn ngủi thôi cũng đủ phác hoạ nên một bức tranh thơ, một chân trời mênh mông bao la với nước xanh sóng trắng bỗng nổi rực một vùng mặt trời đỏ rực như hòn lửa. Màu đỏ ấy cứ lan toả và lung linh, êm đềm mà kiêu hãnh, gần gũi mà huyền hoặc, xa vời. Chỉ một câu thôi, một bức tranh...

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Hòn lửa khổng lồ ấy, có kiêu hùng và rực rỡ thật đấy, nhưng khi đã nhìn xuống biển rồi, những làn nước mơn man xoa dịu đi những sức nóng ấy và làm nó tắt ngầm, tắt ngầm như nó chưa từng xuất hiện. Và liền sau đó, màn đêm sụp xuống tức thì:

Sóng đã cài then, đêm sập cửa

Câu thơ này đem lại cho chúng ta một cảm giác dứt khoát và mạnh mẽ do cách gieo vần sáng tạo độc đáo. Sau một ngày náo nhiệt và sôi động, cả vũ trụ bao la đã lịm tắt dần và lui vào giây phút thanh thản và yên tĩnh. Trong sự ngự trị tuyệt đối của nữ hoàng bóng đêm, những thần dân bé nhỏ được biển mẹ cất lờ êm đềm, đưa vào giấc ngủ và những cơn mơ thần tiên “sóng” và “đêm” ở đây được nhân hoá như những thần dân của vương quốc ấy. Còn vương vấn mặt trời làm gì. hỡi những sự vật yêu hoà bình kia! Nhưng phải chăng tất cả đã ngủ yên.

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Sự tương phản thật quá rõ ràng khi vũ trụ không gian đã yên nghỉ thì những ngư dân chăm chỉ hiền lành bắt đầu hoạt động như thường lệ: Những đứa con tru tú của biển mẹ bắt đầu công việc lao động chân chính, đi tìm nguồn sáng từ biển mẹ một cách nhẹ nhàng, quen thuộc làm sao! Câu thơ này được sử dụng như một sự chuyển vần nên khác hẳn hai câu trên. Nó như một làn gió dịu mát, thanh thản và nhẹ nhõm gợi nên cảnh đoàn thuyền lướt sóng ra khơi, đem theo cả tinh thần phân khởi, náo nức và hăng say lao động. Họ ra đi đánh cá, thuyền này sát thuyền kia, buồm này tựa buồm kia, cánh tay này trong cánh tay kia trùng trùng điệp điệp, biển như một ngôi nhà bí ẩn giấu trong lòng mình những điều huyền diệu nhất, nhưng lại được bao phủ bởi màn đêm âm u và kì lạ. Những con người ấy đã đồng lòng, hồ hởi tiến vào giữa lòng biển tối tăm ấy để tìm ra chiếc chìa khoá nắm giữ những điều bí mật, chinh phục sông sâu biển rộng và bắt nó phải phục vụ cho cuộc sô"ng của mình. Biết bao lần ra biển, chinh phục biển đã trở thành một điệp khúc thật gần gũi thân quen và đầy lạc quan. Và sự lạc quan đó được tô điểm muôn phần bởi câu thơ tiếp theo:

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Vừa nghe qua ta tưởng chừng như thật phi lý. Nhưng phải sống bên biển khơi, phải có lòng yêu biển, yêu lao động dồi dào mới thấy nét độc đáo và chín chắn trong câu thơ. Trước sóng gió thiên nhiên, lòng dũng cảm từ trái tim những người đi biển đã phát lên những bài hát, những câu hồ hoà vào tiếng gió, thúc đẩy làm cho gió mạnh hơn trong tinh thần lạc quan yêu đời của mình. Tiếng hát như vỡ tung trong cảnh trời đất, trong vũ trụ thành yên tĩnh, tiếng hát từ trái tim cứng rắn hồn hậu mạnh mẽ và trung thực thì ngọn gió vô tình của thiên nhiên kia làm sao bì kịp. Và cùng với gió khơi, câu hát ấy đã đẩy những cánh buồm xa hơn, nhanh hơn đến lòng biển mẹ.

Những người yêu cây xanh, yêu rừng rậm, ngày đêm hát vang bài ca trồng cây trên những lâm trường. Những người thợ dệt có những bài ca tơ tằm duyên dáng. Và cũng như vậy, những người đi biển có bài ca gọi cá thật diệu kì và độc đáo:

Hát rằng: Cú bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Câu hát bắt đầu bằng những lời hò gọi thật âm vang, cả hai câu bắt đầu nói rằng từ “biển Đông,”. Cá biển Đông - cá của quê hương của mẹ chính là món quà cao quý mà những đưa con chăm chỉ, yêu lao động được thừa hưởng. Cá “bạc” chính là sắc lấp lánh sáng hay vì đó chính là món quà vô giá và quý báu của thiên nhiên? Biển Đông rất giàu có bao dung. Trong lòng những người đi biển, lúc nào cũng tràn đầy tặng vật cho con người. Những đàn cá thu thoắt ẩn thoắt hiện thật đều như nhắc nhở cho những chàng trai đi biển sự hiện diện tình thương biển cả. Tỉnh yêu biển đã đưa đến cho ngư dân những suy nghĩ đầy trân trọng về sự giàu đẹp và phong phú của biển cả.

Trên biển, trí tưởng tượng của những con người nhỏ bé chợt bay bổng và lung linh. Những đoàn thoi, những luồng sáng “chính là vẻ đẹp mà chỉ có những ai đến với biển bằng tình yêu thật sự mới nhận thấy được là biển thật phong phú tràn đầy như dệt lên mặt biển. Từ “dệt” ở đây thật nên thơ và duyên dáng. Những đoàn thoi ấy đã dệt nên một tấm thảm, một bức tranh lộng lẫy diệu kì tuyệt đẹp về hình thức và quý báu về giá trị. Chỉ một từ “dệt” bé nhỏ nhưng đã nói lên cả sự phong phú giàu đẹp của biển cả. Những ngư dân ấy gọi cá làm gì?

Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!

Ta gặp lại một từ “dệt” không bỡ ngỡ mà sâu thẳm độc đáo. Một niềm tin, sự khát khao sáng ngời như vì sao trong đêm tối loé sáng sự lạc quan của những người lao động. Họ khát khao con đường trở về sẽ phủ đầy niềm vui say mẻ cá đầy, sự sung túc cho gia đình và xã hội, là niềm tự hào đã đóng góp công sức cho cuộc sống. “Đoàn cá ơi!” lời nói gọi yêu thương và thành thực như một lời nhắn nhủ hồn hậu thiết tha. Tiếng hát cứ cất lên, niềm tin cứ vút., bay mãi bay mãi trong khung trời đêm hoà vào tiếng sóng mơn man rạt rào của biển cả thành một giai điệu muôn đời không phai nhạt.

Hai khổ thơ tuy ngắn ngủi với hình ảnh gợi cảm, lời lẽ bình dị và ý thức sáng tạo độc đáo lạ thường đã nói lên rất nhiều cảm xúc của nhà thơ Huy Cận trước biển cả quê hương. Qua cảnh đoàn thuyền ra khơi, tác giả muôn ca ngợi sự giàu đẹp của biển cả thiên nhiên và lòng yêu lao động đáng trân trọng của những ngư dân thật thầm lặng đóng góp cho Tổ Quốc. Qua đó, chúng ta có thể thấy tình yêu thiên nhiên, yêu lao động và độc đáo của nền thơ Việt Nam.

Nguồn:
Ý kiến bạn đọc

may dam  |   vo thung son  |   tam lot san  |   banh xe day hang  |   dịch vụ máy chủ ảo  |   cho thuê vps giá rẻ  |   Học Trực Tuyến