Trang chủ » Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Hôm nay ngày: 23-07-2018 18:26:06

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

(Ngày đăng: 19-10-2015 03:24:31)
            Hot!   
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) - người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng), là người chứng kiến sự khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam với những cuộc nội chiến đẫm máu và tàn khốc.

Nét đặc sắc nổi bật trong thơ ông là chất triết lí, giáo huấn. Bên cạnh đó ông cũng ngợi ca chí khí của kẻ sĩ, thú vui thanh nhàn, phê phán những điều xấu xa trong xã hội. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nêu lên quan niệm sống thanh cao của một bậc ẩn sĩ tự tách mình ra khỏi cái tầm thường của cuộc sống bon chen giữa vòng lợi danh.

Nhànlà bài thơ Nôm sô" 73 trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Nhàn nghĩa là “có ít hoặc không có việc gì phải làm, phải lo nghỉ đến”. Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, “nhàn” không phải là sự rỗi rãi, không phải làm việc mà là được sông một cuộc sống thuần hậu, chất phác của một “lão nông tri điền”, cuộc sông của người dân lao động, tự làm việc để tạo dựng cuộc sống cho mình, đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống của bản thân. Bởi thế, trong câu thơ đầu, tác giả đã liệt kê một loạt các dụng cụ: “mai”, “cuốc”, “cần câu”. Mọi cái dường như đã có, đã sẵn sàng cho một cuộc sống lao động. Câu thơ ngắt nhịp 2/2/3 tạo nên nhịp điệu thanh thản, thư thái. Đó là cái thanh thản, thư thái của người ung dung, tự tại, có bản lĩnh, chủ động trong cuộc sống của mình. Một bậc trí thức, một đại khoa của triều đình nay lại tìm thấy niềm vui trong cuộc sống lao động giản dị nơi thôn dã.

Ở câu thơ thứ hai, tâm thế nhàn dật tiếp tục được thể hiện:

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

Từ “thơ thẩn” diễn tả trạng thái nhàn hạ, thảnh thơi, đi dạo chơi không có chủ đích rõ rệt, trong lòng không vướng bận một chút lo lắng, băn khoăn nào của tác giả. Mặc ai vui thú với những thú vui của họ, mặc ai bon chen, toan tính, cầu danh lợi, ta vẫn ung dung với cách sông mà ta đã lựa

chọn. Phải là người có bản lĩnh vững vàng mới có thể có được phong thái ung dung, tự tại như thế.

Hai câu thực như vẽ ra một không gian có phần hoang vắng, tịch mịch nhưng lại là nơi lí tưởng để tìm về chốn an nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn, người đến chốn lao xao.

Các cụm từ “nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao” vừa mang ý nghĩa đôi lập, vừa mang ý nghĩa biểu tượng. “Chôn lao xao” chính là nơi quan trường, nơi giành giật tư lợi, nơi ngựa xe tấp nập. Nơi đó diễn ra bao sự bon chen danh vọng, bởi vậy “chôn lao xao” giàu sang quyền quý ấy luôn ẩn chứa bao nhiêu cạm bẫy. Công danh, phú quý đã trở thành miếng mồi hấp dẫn khiến cho bao kẻ toan tính, bon chen, luồn lọt, thậm chí hãm hại lẫn nhau. “Nơi vắng vẻ” là nơi tĩnh tại, thanh vắng, xa cách sự đua chen danh vọng, cách xa sự gièm pha hiểm độc của người đời. Nơi đó con người không còn phải băn khoăn, lo lắng; con người được sống giao hòa với thiên nhiên, tìm thấy sự thanh thản cho tâm hồn. Nêu lên sự lựa chọn điểm đến (nơi vắng vẻ, chôn lao xao) đặt trong sự đôi lập với hai trạng thái “dại” và “khôn”, cách nói ngược của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho thấy phong thái thâm trầm, pha chút hài hước hóm hỉnh của nhà thơ. Đặt trong bôi cảnh xã hội đảo điên thời bấy giờ thì cái “khôn” theo cách nói của ông thực chất lại là “dại”, cái “dại” thực chất lại là “khôn”. Cái “dại” của một người biết mình biết ta, biết thời thế, biết lánh xa sự đua chen danh vọng làm tha hóa nhân cách con người... quả là cái dại của một nhân cách lớn, một trí tuệ lớn. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc lánh đục về trong, tìm nơi vắng vẻ, không vướng bụi trần, thể hiện được tính tự chủ của một con người luôn ý thức được giá trị của bản thân giữa dòng đời. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cười nhạo một cách thẳng thắn bọn người chỉ nhăm nhăm chạy theo danh lợi - nụ cười điềm tĩnh trong tư thế của một bậc chính nhân quân tử cả một đời không bận tâm đến những trò khôn - dại tầm thường. Không phải là người tỉnh táo, sâu sắc thì không thể có cái nhìn và sự lựa chọn sáng suốt như thế.

Trong hai câu luận, tác giả ca ngợi cái thanh đạm của cuộc sống ẩn dật. Đó là cuộc sông gần gũi với thiên nhiên, thuận theo tự nhiên. Mùa nào thức ấy, con người tận hưởng những thứ sẵn có quanh mình, chẳng phải vất vả tìm kiếm ở tận đâu đâu, thật thú vị và tiện lợi biết bao:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Hai câu thơ là bộ tranh tứ bình về cảnh sinh hoạt với đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Cảnh bốn mùa có đầy đủ mùi vị, hương sắc. Măng trúc, giá đỗ không phải là những cao lương mĩ vị mà là những món ăn thanh đạm, dân dã,

I

mang đậm màu sắc thôn quê. Nó hoàn toàn phù hợp với lối sống của những con người muốn hòa mình vào tự nhiên. Sinh hoạt của con người cũng rất thoải mái: mùa xuân thì tắm ở hồ sen, mùa hạ thì tắm ao, tha hồ vùng vẫy. Con người thực sự đắm mình trong không gian nhàn dật giữa tự nhiên, không phải khuôn mình vào một vòng vây trói buộc hay nghi lễ nào.

Đến hai câu thơ kết, quan niệm về chữ “nhàn” của nhà thơ được thể hiện trọn vẹn bằng một sự khẳng định:

Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống.

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Nhà thơ mượn điển tích xưa để thể hiện rõ quan điểm của mình về công danh, phú quý: một người nằm ngủ dưới gốc hòe thấy mình được làm quan giàu có hưởng vinh hoa phú quý, tỉnh dậy thấy mình vẫn nằm dưới gốc cây hòe mới biết rằng đó chỉ là chiêm bao. Nhắc lại điển tích xưa, một lần nữa, nhà thơ thế' hiện rõ thái độ dứt khoát xa lánh công danh phú quý, khẳng định lối sông mà mình đã lựa chọn. Quan niệm ấy tuy có phần yếm thế, khiến con người có xu hướng thoát li thực tại và lui vào ẩn dật nhưng đặt trong bối cảnh thời đại mà nhà thơ đang sống thì tư tưởng ấy lại bộc lộ ý nghĩa tích cực: nó giúp người quân tử gìn giữ được nhân cách và khí tiết của mình.

Câu thơ “Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống” với cách ngắt nhịp linh hoạt 1/3/3 thể hiện thái độ ung dung. Hai chữ “Nhìn xem” trong câu thơ “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” giúp chúng ta hình dung được thế đứng của tác giả: thế đứng của một con người đã thoát khỏi vòng danh lợi, đứng ở bên ngoài, đứng bên trên đế’ nhìn vào thế tục, cười cợt những người “khôn” đang tranh nhau đến “chôn lao xao”. Bằng cách ấy, nhà thơ một lần nữa khẳng định lối sống nhàn tản mà mình đã tự nguyện lựa chọn. Chọn cho mình lối sống nhàn dật, gắn với cuộc sống lao động giản dị nơi quê mùa dân dã, Nguyễn Bỉnh Khiêm cảm thấy vui sướng và hạnh phúc với cuộc sông mà mình đã chọn vì lối sông ấy hòa hợp với tự nhiên, thuận theo tự nhiên và đó là cách tốt nhất để con người di dưỡng tinh thần. Lối sống ấy giúp ông giữ được cốt cách thanh cao, ung dung tự tại, không bị cuốn theo vòng danh lợi, giữ được bản tính thiện của con người. Lối sông nhàn mang lại cho nhà thơ niềm vui thanh cao, lành mạnh.

Nhànlà một bài thơ Nôm Đường luật giản dị mà hàm ẩn ý nghĩa thâm thúy, sâu xa. Bài thơ cho ta thấy được quan niệm nhân sinh cao đẹp của một nhân cách lớn - một người tự chủ, bản lĩnh cứng cỏi, không bị mê hoặc bởi uy quyền và danh vọng.

Đây cũng là tác phẩm đánh dấu sự trưởng thành của thơ Nôm trong văn chương trung đại Việt Nam

Nguồn:
Ý kiến bạn đọc

may dam  |   vo thung son  |   tam lot san  |   banh xe day hang  |   dịch vụ máy chủ ảo  |   cho thuê vps giá rẻ  |   Học Trực Tuyến