Trang chủ » Phân tích hình ảnh người dân trong tác phẩm bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
Hôm nay ngày: 23-07-2018 18:27:14

Phân tích hình ảnh người dân trong tác phẩm bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

(Ngày đăng: 06-01-2016 03:17:29)
            Hot!   
Qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cua Nguyễn Đình Chiểu, hình ảnh người nông dân lần đầu tiên đi vào văn học với tất cả vẻ đẹp của họ. Hãy phát biểu ý kiến của mình về

Bài làm

Từ xưa đến nay, tình yêu quê hương đất nước luôn thể hiện tính truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ mù nhưng trái tim không mù cũng là một trong số đó. Ông đau đớn khi thấy dân:

Đói nghèo đầy chiếu, đầy chăn.

Ông cảm nhận được điều đó và đã dùng:

Bút khôn làm kiếm chém phăng.

để thể hiện lòng mình. Nhưng điều đặc biệt hơn đó là trong thơ ỏng, hình ảnh người nông dân lần đầu tiên đi vào văn học với tất cảvẻ đẹp của họ. Điều đó được thể hiện qua áng văn bất hủVăn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của nhà thơ.

Mở đầu bài văn tế, tác giả đã khái quát về bối cảnh lịch sử của đất nước:

Hỡi ôi!

Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ.

Sống trong cảnh bị cai trị, bị đè nén, số phận và cuộc đời của người dân lao động biết làm sao đây? Giặc dữ như lữcú diều luôn tìm mọi cách làm cho dân thêm đau, thêm khổ. Dù không tận mắt nhìn thấy nhưng bằng cả trái tim mình, Nguyễn Đình Chiểu đã phải thốt lên ‘Hỡi ôi! ‘ một cách đau xót và xúc động. Ông thương cho người dân đêm ngày phải chịu tiếng súng tiếng bom, thương cho những con người lam lũ phải tan cửa nát nhà chỉvì lòng tham của ‘lũ quỷ khát máu’. Thương dân bao nhiêu, ông càng hiểu dàn và gần với dân bấy nhiêu. Ông hiểu và cảm nhận được những phẩm chất cao quý của người dân dù quanh năm họ chỉ biết ‘bán mặt cho đất, bán lưng cho trời’.

Nhớ linh xưa:

Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó.

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu, ở

trong làng bộ.

Việc cấy, việc cày... tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng... mắt chưa từng ngó.

Từ xưa đến nay, người nông dân vốn chỉ biết tới công việc đồng áng, nào biết tới binh đao, loạn lạc. Họ chỉ muốn làm sao cho cuộc sống yên bình, không có nghèo đói và một ‘bếp lửa hồng’ để sưởi ấm trái tim của họ. Ây vậy mà ước mong nhỏ nhoi ấy không thể thực hiện được. Chiến tranh tới khiến cho cuộc sống của họ bị đảo lộn tất cả. Họ biết làm gì đây khi trong tay chỉcó ‘một ngọn tầm vông’, ‘một manh áo vải’? Cuộc sống khắc nghiệt là thế nhưng những con người cần cù lao động ấy không chịu lùi bước. Họ quyết đứng lên để bảo vệ ‘nơi chôn rau cắt rốn’ của mình dù có phải trả giá bằng cả tuổi thanh xuân. Ngày đêm họ luyện rèn, bày binh bố trận. Lo cho quê hương đất nước, họ tự ý thức được việc mình làm nên:

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; chín chục trận binh thư,

không chờ bày bố.

Nào đợi mang bao tấu bầu ngòi;

Chi nài sắm dao tu, nón gõ.

Không để ai phải nhắc nhở, không cần ai phải kêu gọi, những người nông dân luôn mang trong mình sự sáng tạo và lòng kiên trì đã làm nên tất cả. Từ những con người ‘cui cút làm ăn’ họ đã trở thành một đội quân sắt thép dù họ ‘vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ’ chỉvì lòng ‘mến nghĩa’ mà họ đến với nghĩa quân chính bởi sự tự giác trong tiềm thức của mỗi người.

Tất cả họ đều ý thức được việc mình làm dù nó có muôn vàn nguy hiểm. Nhưng họ vẫn làm chỉ bởi trong tâm khảm của họ luôn vang lên hai tiếng ‘yêu nước’. Họ yêu những gì dù là giản đơn, nhỏ bé nhất. Họ yêu tất cả những thứ gắn liền với cuộc sống lam lũ của mình. Chính vì thế mà những người dân càng trở nên mạnh mẽ, cứng cáp, liên ngang hơn trước mọi ‘phong ba bão táp’ của cuộc đời. Càng mạnh mẽ bao nhiêu, họ lại càng cảm nhận được lòng căm thù giặc bấy nhiêu:

‘Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ’. Uất hận, hờn căm. Tất cả mọi cảm xúc đường như bị dồn nén, bị kìm hãm. Càng căm hận quân cướp nước bao nhiêu, họ càng nguyền rủa bọn giặc bán nước bấy nhiêu:

‘Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vừa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ’.

Càng tức giận, họ càng muốn ‘hều mình xông lênnhư chẳng có’ khiến cho ‘mã tà, ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ’. Họ ‘nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to’. Tinh thần anh dũng chiến đấuấy khiến họ càng quyết tâm bảo vệ đất nước hơn nữa. Nó là nguồn sức mạnh cổvũ tinh thần của quân sĩ. Họ quyết bảo vệ đến cùng nền độc lập và tinh hoa của dân tộc:

‘Một mối xa thư đồsộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó’.

Kiên quyết đánh đuổi lũ giặc bán nước và lũ cướp nước ra khỏi bờ cõi. Nhân dân đoàn kết, một lòng đứng lên tạo thành một khối sức mạnh to lớn quét mọi bụi bẩn, quét hết ‘mùi tinh chiên váy vá đã ba năm’ bằng ‘một trận mưa nhuần’ với sức mạnh như bão táp. Mặc dù trong tay họ không phải là những thứvũ khí tối tân, mà chỉ là ‘rom con cúi’, ‘một lưỡi dao phay’... nhưng cũng đủ sức khiến cho ‘rớt đầu quan hai nọ’ hay ‘đốt xong nhà dạy đạo kia’ khiến cho lũ ‘dê chó’, ‘hồn bay phách lạc’.

Dù biết khi ra nơi trận mạc ‘lành ít dữ nhiều’ nhưng vì lòng trung, vì cái đạo của con người, những người con ưu tú vẫn sẵn sàng ra mặt trận dù phải hy sinh bản thân mình:

Những lăm lòng nghĩa lâu dùng, biết đâu xác phàm vội bỏ

Một giấc sa trường chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm

âm phủấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

Trong cuộc chiến đấu ấy, có biết bao con người đã nằm xuống:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu!

Dây thép gai đâm nát trời chiều.

(. Đất nước -Nguyễn Đình Thi)

Từ đó, không ít người đã trở thành chiến sĩvô danh. Nhưng điều đó đâu có nghĩa lý gì? Họ đã hạnh phúc và mãn nguyện khi được chết trên mảnh đất quê hương, được chết vì người thân yêu ruột thịt của mình, được chết để bảo vệ những ‘mầm non đang hé nở’ của Tổ quốc dù cho con đường đó:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mảy súng ngủi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

(Quang Dũng)

Dẫu hy sinh nhưng tấm gương của họ đời đời để lại tiếng thom cho muôn đời:

‘Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đền sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ’.

Họ ra đi chỉ với một mong muốn đất nước thoát khỏi sự chèn ép, thống trị của quân xâm lược; người dân được sống trong cảnh thanh bình, yên ấm, no đủ. Đó không lẽlà một ước mơ quá xa vời?

Nói tóm lại, bằng tất cả tình cảm của mình, nhà thơ mù Gia Định ấy đã tái hiện lại hình ảnh của đất nước, và nổi bật trong đó là hình ảnh của người nông dân với tất cảvẻđẹp cao quý vốn có của họ. Chính vì thế màVăn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã trớ thành một áng văn bất hủ trong kho tàng văn học Việt Nam. Tuy bài thơ chất chứa nỗi đau nhưng nó lại càng tô đậm thêm tinh thần yêu nước quyết chiến đấu chống giặc ngoại xâm của cả một dân tộc anh hùng. Cả dân tộc ấy chỉ mong sao có ngày:

Ảnh hồng trước mặt đã bừng soi,

Hết mưa là nắng hửng lên thôi.

Nguồn:
Ý kiến bạn đọc

may dam  |   vo thung son  |   tam lot san  |   banh xe day hang  |   dịch vụ máy chủ ảo  |   cho thuê vps giá rẻ  |   Học Trực Tuyến